[Sherlock (BBC)] Sẵn Lòng Làm Cỗ Những Kẻ Nào Muốn Khuất Phục Chúng Ta

by Chi

Title [Tựa đề]: Sic Gorgiamus Allos Subjectatos Nunc    |    Sẵn Lòng Làm Cỗ Những Kẻ Nào Muốn Khuất Phục Chúng Ta
Fandom: Sherlock (BBC)
Author [Tác giả]: etothepii
Translator [Người dịch]: Chi
Disclaimer: Tôi không sở hữu bất cứ thứ gì thuộc về series Sherlock của BBC lẫn Sir Arthur Conan Doyle.

T/N: Đây là truyện crossover/kết hợp giữa Sherlock (BBC) và The Addams Family. (Tự thú: Mình đã vỗ bàn vì sung sướng trước, trong khi, và sau khi đọc truyện này. xD ) Có lẽ phần lớn những người cùng lứa với mình biết đến gia đình Addams thông qua series phim hoạt hình này, hoặc phim này. <3

Nói tóm gọn, gia đình Addams là một gia đình lập dị nhưng lại không cho là mình lập dị. Họ có khả năng, thậm chí còn ưa thích, ăn những thứ độc chết người, chơi những trò gây đau đớn và vô cùng nguy hiểm, ví dụ như bị bửa làm đôi hoặc đâm đầu vào bãi mìn mà vẫn sống nhăn. Ngoài ra, mỗi thành viên lại có một “biệt tài” riêng. Bạn có thể tìm hiểu thêm tại đây.

Đọc nãy giờ chắc bạn cũng nhận ra truyện sẽ… có xu hướng bạo lực cao và không bình thường.

Summary [Tóm tắt]:

Sic gorgiamus allos subjectatos nunc*. Đó là phương châm của dòng họ ta.”

“Nó có nghĩa là gì?”

“Sẵn lòng làm cỗ những kẻ nào muốn khuất phục chúng ta.”



John được sinh ra không phải trong bệnh viện, mà là tại nhà, với bà đỡ là một người họ hàng xa bên nhà mẹ. Khi mẹ chuyển dạ và cuối cùng John được tống ra khỏi người mẹ, bà đỡ bế nó lên trước khi nó kịp hít hơi thở đầu tiên. Bà dìm nó vào một cái bồn nhỏ bên cạnh, bên trong là máu ấm đổ đầy gần tới mép – của bà ấy, của mẹ, và còn lại là của một con lợn đực vừa mới mổ.

Khi bà nhấc nó ra khỏi bồn, nó gào lên một hồi inh ỏi. Bà lấy khăn lau mặt sạch sẽ cho nó. Máu rỉ ra từ mũi và miệng nó, và hai tay nó vụng về khua khoắng.

“Một cậu nhóc khỏe mạnh.” Bà nói, và bế John lại gần cho mẹ thoáng chạm tay lên má nó trước khi một đợt co rút khác ập đến. Bà cho nó vào bồn trở lại. “Và giờ thì đến đứa tiếp theo.”

Em gái Harriet ra đời sau John bảy phút.

Trước khi hai đứa quá lớn để lọt vừa bên trong, mẹ cho John và Harry vào máy giặt để tắm – không phải luôn luôn, thỉnh thoảng thôi, lúc nào mẹ có cả áo quần cần giặt nữa. Khi vòng quay dừng và mẹ cho hai đứa ra ngoài, chúng hớn hở cười khúc khích và thổi bong bóng vào không khí.

Mẹ cũng cho cả hai vào máy sấy một lần, nhưng chỉ một lần vì nước xả làm mềm vải khiến Harry bị nổi sảy và tóc John bung xù ra tán loạn.

John không nhớ rõ lắm – chỉ biết chuyện ấy có xảy ra, rằng có một lần trong phiên tòa bố nói với ông thẩm phán, bố trông thấy John đang nằm chơi trong máy giặt với đống quần áo bẩn, rằng chuyện gì cũng có thể xảy ra nếu mẹ bất cẩn.

Mẹ đâu có bất cẩn. Mẹ đã hôn tóc nó và chúc nó chơi vui vẻ. Sau đó, mẹ đóng cửa lại và bật máy lên. John đã tận dụng thời gian ấy để tưởng tượng mình biết bay.

John và Harry được năm tuổi khi hai đứa tìm thấy bình hóa chất súc ống nước cất dưới bồn rửa chén. Phải mất một lúc nhưng cuối cùng thì chúng cũng mở được nắp bình. Chất lỏng trong ấy trông giống hệt sơn nên chúng dốc hết ra sàn nhà và nhúng tay vào đấy. Nó có mùi rất buồn cười, không giống thứ gì chúng đã từng nếm qua, nhưng không phải tệ, chỉ buồn cười thôi. Miệng và răng John tê tê cứ như có con ong trong đấy ngay cả khi cậu đã nuốt xuống.

Cái bình đã gần cạn khi bố đi làm về và nhìn thấy hai đứa, áo quần hỏng bét và cười hinh hích với nhau. Chất lỏng đặc quánh nhớp nháp trên tay và mặt chúng nó.

Bố thét lên, gương mặt hóa thành màu đỏ lốm đốm. Bố muốn biết mẹ đâu rồi, và chúng đang làm gì, và bảo chúng rằng không bao giờ, không bao giờ được lấy thứ gì bên dưới bồn rửa chén ra chơi nữa. John ré lên khi bố xốc cả hai vào bồn tắm và siết lấy cậu quá chặt, khi bố chà rửa chúng nó, thô bạo, bằng nước lạnh.

Nước ộc vào mũi và miệng cậu, chỉ vừa đủ để cậu sặc nhưng không đủ để cậu hít vào. Harry nhe răng cắn khi đến phiên mình, và bị đuổi về phòng (nhưng đó cũng là phòng của John nên hai đứa cùng đi để con bé không phải chán).

Bố mẹ cãi nhau một trận to. Bố ném vỡ đồ đạc và gọi mẹ là bất cẩn. Bố bảo mẹ không chăm sóc các con tử tế trong khi mẹ lặp đi lặp lại, “Không có chuyện gì xảy ra cả. Bọn trẻ vẫn ổn mà.” như thể những lời đó có thể xoa dịu cơn giận của bố. Chúng không thể.

“Cô có bị cái gì không thế?” Bố vặn hỏi. “Cô phải để mắt đến chúng nó chứ! Chúng chỉ là trẻ con! Chúng sẽ gặp tai nạn!”

Sau đó, mẹ ôm hai đứa vào lòng và bảo chúng đừng khóc, bố chỉ là lo lắng cho chúng quá thôi.

“Sao bố lại giận thế?” Harry hỏi, khi mẹ đắp chăn cho chúng.

Mẹ hôn trán Harry, rồi đến John.

“Khi nào các con lớn mẹ sẽ giải thích.” Mẹ nói.

Bố đi làm nhưng mẹ thì không, thế nên mẹ là người hai đứa chạy đi tìm sau khi chúng vớ được con dao bếp và John cắt đứt lìa ba ngón tay phải của Harry nhưng không biết gắn lại như thế nào.

“Mẹ!” Harry khóc rống, bổ nhào vào váy mẹ, tay trái nắm chặt lấy ba ngón tay của mình. Mỗi ngón cong lại, bấu vào tay con bé. Nó vẫy tay phải trước mặt mẹ. “Xem Johnny đã làm gì này!”

Mẹ quỳ xuống và xòe tay ra cho Harry thả ba ngón tay vào. “Johnny.” Mẹ nghiêm khắc nói, và thổi lên đầu đỏ ối của ngón tay, đoạn thổi tiếp lên chỏm thịt trên tay Harry. “Như thế là không tốt. Nếu con là người bị mất một ngón thì thế nào, hửm?”

“Nhưng Harry đẩy con xuống cầu thang.” John phụng phịu.

“Thì con đẩy em lại. Con không được cắt tay em và để mặc em như thế.” Mẹ mắng, rồi quay sang vỗ về Harry. “Để ý vào, Harry. Con xếp sai thứ tự rồi. Thấy không? Ngón ngắn là ngón út. Nằm ở đây.” Mẹ nói, và nhấn ngón ngắn nhất vào chỏm thịt ngoài cùng. “Ngón dài là ngón giữa. Nó nằm ở giữa tất cả các ngón khác, ở đây, và ngón còn lại là ngón áp út. Nằm đây.” Mẹ vừa nói vừa đặt từng ngón vào đúng vị trí của chúng.

Làm xong, Harry co duỗi ba ngón tay và lè lưỡi ra với John.

John trề môi. Đoạn, cậu quay sang mẹ. “Cho con xem lại với!”

“Hai đứa phải hứa không cho bố biết.” Mẹ cảnh cáo. Khi cả hai hăng hái gật đầu, mẹ dẫn chúng vào phòng tắm và dạy John cách chặt đứt một bàn tay chỉ bằng một nhát dao phay. Và chỉ cho chúng cách dắt bàn tay hoặc ngón tay trở về với mình mà không đi lạc, ngay cả khi nhắm mắt.

Ở trường, không ai thích hai đứa cả. Chúng bị gọi là Quái Vật và Xương Khô, bị chế nhạo khi ngồi cạnh nhau vào giờ ăn trưa và chia cho nhau bánh mì xăng-uých được cắt thành hình dơi hoặc vạc thuốc.

Một thằng nhóc nọ còn đẩy Harry ngã và ném cát vào tóc con bé.

John làm hoài trò đấy (có điều cậu dùng đá chứ không phải cát), nhưng cậu là người duy nhất được làm thế. Ở ngoài này, đứa nào tấn công Harry chính là tấn công cậu. Thế nên cậu nhào vào thằng kia và vật nó xuống đất, nhe răng giơ móng gầm gừ như sói. Harry dùng hết sức đâm một cành cây vào chân nó.

Nó rú lên và John vẫn gầm gừ trong họng. Cậu ngoạm lấy một bên vai nó và lúc lắc đầu qua hai bên như vẫn thấy những con chó làm trên tivi. “Grrrừ.” Cậu dọa.

Nhưng rồi thằng nhóc bắt đầu khóc. Lỗ thủng nơi quần nó thấm đỏ. Màu đỏ lại còn loang dần, chảy ra từ chỗ Harry đâm nó, và túa ra mạnh hơn khi Harry xoay cành cây. Cô giáo lại gần, và cô đưa hai tay lên bụm miệng, mặt trắng bệch.

Vì việc ấy mà hai đứa gặp rất nhiều rắc rối, dù John chẳng hiểu tại sao. Chúng nó đang chơi mà. Nhưng khi bố mẹ đến trường, bố lại giận – rất giận, đến nỗi hai tay run lẩy bẩy, và trông mẹ tái nhợt, môi mím chặt.

“Bọn con chỉ đùa thôi mà!” Harry phản đối khi thấy bố mẹ. “Tại nó bày trò trước!”

“Chúng ta sẽ nói về việc này sau, Harry, John.” Mẹ nói, và nghiêm nghị nhìn chúng.

Một ông mặt mày trầm trọng cố gắng bắt chuyện với John và Harry, muốn biết chúng làm gì ở nhà, muốn biết John học cách đánh nhau như thế ở đâu. Khi chúng nó nhìn nhau nhiều hơn là nhìn ông ta, chúng bị tách ra.

“Cháu ở nhà thế nào?” Ông ta hỏi, khi John ngồi một mình và ngọ nguậy trên ghế, chán phát ốm.

“Ổn lắm ạ.” Cậu đáp. “Cháu đi được chưa?”

“Hôm nay cháu đã làm bạn mình bị thương rất nặng đấy, John.” Ông ta tiếp tục. “Cháu có biết mình đã làm gì không?”

John nhún vai. “Chẳng biết.”

“Cắn người khác là không ngoan. Cháu có hay muốn cắn người không?”

John lại nhún vai, và đá chân xuống sàn. “Chẳng biết.”

“Bố mẹ cháu có hay nổi giận không?”

John lắc đầu. “Bố có, nhưng mẹ thì không.”

“Thế lúc bố cháu giận thì bố cháu làm gì?”

Nhún vai. “Chẳng biết. Cháu đi được chưa?”

Khi về đến nhà, bố hầm hầm bỏ đi ra quán rượu. “Đây là lỗi của cô, là do cô để mặc bọn chúng xem mấy thứ tệ hại trên tivi.” Bố nói với mẹ trước khi đóng sầm cửa lại. “Cô tự mà lo liệu.”

“Có nhiều máu lắm ạ.” Harry nói, và John gật đầu vì cậu cũng nghĩ y hệt.

“Khi Harry đâm con, con chẳng bao giờ như thế cả.” Cậu ướm hỏi. Khi cậu cắt vào mình, máu không chảy ra khỏi người cậu. Chỉ mới hôm nọ thôi, hai đứa đã dùng dao tách bụng John ra và ngắm nội tạng bên trong cậu lấp lóa và đập từng hồi. Cậu thấy hơi nhột, và chúng bỏ ra vài phút chọt chọt thử xem có gì xảy ra không. Trò chơi hạ màn khi Harry tìm cách nhét cục đá vào bụng John và cậu đáp trả bằng cách tung chân vào mặt con bé.

“Mẹ biết, cưng à.” Mẹ nói, xoa đầu và ôm lấy chúng. “Nhưng con không thể chơi với những đứa trẻ khác như thế. Chúng không biết cách.”

“Bọn con dạy bọn nó nhé?” John hỏi.

“Không được.” Mẹ trả lời. “Hãy cứ nhẹ tay thôi.”

Năm hai đứa tám tuổi, bố bắt gặp mẹ đang đổ thuốc diệt chuột vào tô súp gà của chúng khi John và Harry đều bị cúm. Bố hất hai tô súp văng khỏi bàn và siết lấy cổ tay mẹ đủ mạnh để làm bầm tím một người bình thường.

Chúng hãy còn quá yếu để mò ra khỏi giường đi nghe lén, nên tất cả những gì chúng nghe được là tiếng hét của bố. Bố rất hay la hét với mẹ (lúc nào cũng vậy, khi bố đi làm về và chúng chưa kịp cất hết đồ chơi vào), nhưng mẹ không bao giờ hét lại.

“Rồi sẽ ổn thôi.” John nói với Harry, vì cậu lớn hơn, cậu là anh trai, và trèo xuống giường để bò vào giường em và ngoéo lấy ngón tay con bé.

Nhưng mọi việc không ổn chút nào, vì sau đó người ta bắt đầu kéo đến – những người lớn vẻ mặt nghiêm trang thầm thì nói chuyện với bố. Không khí căng thẳng đến khó thở. Thay vì mẹ, bố là người đắp chăn cho chúng mỗi tối và bố làm sai hết. Bố lại còn quên hôn trán chúc chúng ngủ ngon.

Chú James đến ở nhà chúng một thời gian và giúp mẹ trông nom chúng. John không thích thế chút nào. Mẹ chẳng bao giờ bám theo khi chúng chơi, và mẹ luôn luôn cho chúng chạy vào rừng.

Chú bắt gặp hai đứa bắc ghế để lấy dao trên kệ bếp. Chú nổi giận và lôi xềnh xệch hai đứa, giãy giụa, đến gặp mẹ.

“Tôi vừa thấy hai đứa nó cố lấy con dao xuống.” Chú nói. Mẹ ngẩng đầu lên. Mẹ đang viết thư.

“Thì có sao? Chúng chỉ muốn chơi thôi.” Mẹ nói. “Chị chắc chắn hai đứa sẽ cẩn thận, phải không nào?”

John và Harry gật đầu. “Dạ, mẹ.” Cả hai đồng thanh đáp.

Nhưng rốt cuộc chúng không được phép chơi dao, bởi vì mặt chú James trở nên nghiêm trọng và chú kéo mẹ sang một bên, thì thào nhỏ xíu nên John không nghe được. Khi quay trở lại, mẹ gượng cười và nói. “Có lẽ không được, hai cưng à.”

Chúng chẳng được làm gì hay ho nữa vì mỗi lần chúng tìm cách, chú James lại xuất hiện, đoạt lấy món đồ đi, và càng lúc càng giận dữ cho đến khi chú bắt chúng trở về phòng mình.

Có một phiên tòa, và một ông thẩm phán.

Nhưng John và Harry mới tám tuổi, vẫn tám tuổi, và tất cả những gì chúng biết là mẹ sắp đi xa và không thể gặp chúng nữa dù mẹ rất yêu chúng.

John nghe được bố nói chuyện điện thoại, nghe được những từ như điên rồbệnh hoạn. Khi cậu hỏi, bố quỳ xuống, nhìn vào mắt cậu, đặt bàn tay to lên vai cậu, và nói. “Mẹ bị bệnh rất nặng, và hiện giờ các con không nên ở gần mẹ, nên mẹ phải đi xa.”

“Nhưng con không muốn mẹ đi.” John nói, và bắt đầu khóc.

Cậu vốn đã biết việc này có liên quan đến bí mật mà mẹ giấu bố, đến cách mẹ dạy John và Harry. Khi mẹ gõ nhẹ lên mũi chúng và nói “Đừng cho bố biết” sau khi mẹ chỉ cho chúng cách dùng kim ghim hai bên da bụng xuống để chúng có thể rảnh tay mà ngắm nghía bên trong.

Chúng không biết cách. Mẹ nói thế, và John đã đinh ninh rằng mẹ đang nói những đứa trẻ ở trường, nhưng thì ra còn cả bố nữa.

Cũng không phải là ngày tàn của thế giới chúng nó. Mẹ không ở với hai đứa nữa nhưng mẹ vẫn gửi thư cho chúng. Thư của mẹ dài lan man, đầy ắp những câu chuyện về tuổi thơ của mẹ mà bố bảo là chuyện cổ tích nhưng chúng biết hoàn toàn là sự thật.

Nhưng bố đọc thư của mẹ cho chúng nghe và sửa lỗi chính tả trong thư hồi âm của chúng, thế nên chúng không có cơ hội hỏi thẳng, Bọn con biết mình rất khác với những đứa kia? Khác thế nào, tại sao, và bọn con phải làm gì đây?

Mẹ gọi điện vào ngày sinh nhật của chúng và lễ Giáng Sinh. Mỗi cuộc nói chuyện không dài, chỉ vừa đủ để John và Harry thay phiên nhau nói “Con yêu mẹ” và “Con nhớ mẹ” và lắng nghe lời đáp lại.

Bố của hai đứa không thích chúng cho lắm.

John thích mổ banh mọi thứ. Chủ yếu là cậu chơi với chính mình và Harry, nhưng có một lần cậu tìm thấy con chó nhà hàng xóm. Harry giúp cậu đè nó xuống trong khi cậu lột đi lớp da bên ngoài và chọt vào phổi nó. Con chó ngừng giãy giụa sau nhát cắt đầu tiên, vì đó là lúc chúng luôn thôi không tìm cách thoát thân, là lúc chúng nằm im, mơ màng và thụ động dưới lưỡi dao.

John xin một con dao mổ vào dịp Giáng Sinh và thay vào đó bố mua cho cậu một cái áo len.

Vào ngày sinh nhật, Harry hỏi, “Bọn con có thể có thạch tín trên bánh không ạ?” nhã nhặn và lễ phép hết mức có thể vì mẹ vẫn luôn rắc một ít lên phần bánh của chúng. Bố phá ra cười và rắc vụn bánh quy lên lát bánh của con bé, nhưng không phải như vậy mà. Mùi vị không giống thạch tín tí nào cả.

Một thời gian sau thì con chó nhà hàng xóm đi lạc. Khi ấy đã là mấy tuần sau khi hai đứa nhìn ngắm thỏa thuê nội tạng của nó và so sánh với của Harry. Chúng khép con chó lại và cho nó ăn một nửa ổ bánh mì của John, vì mẹ luôn dặn sau khi chơi với thứ gì phải biết đối xử tử tế với nó. Khi chúng thả nó ra đường trở lại đúng nơi chúng tìm thấy nó, trên đầu nó buộc một cái nơ lấy từ mớ quà Giáng Sinh của Harry và nó ngửi ngửi túi John, ý muốn vòi thêm bánh mì.

Bố tìm thấy mấy con dao chúng đã dùng, giấu dưới giường John. Trên dao hãy còn vương chút lông và vài vệt máu.

Bố tái hẳn đi, đoạn ửng đỏ, và ném dụng cụ của John lên bàn và đòi chúng khai thật xem chúng đã làm gì.

John nghĩ có lẽ chúng nên nói dối, vì đây là một trong những bí mật chúng giấu bố, nhưng Harry vẫn chưa hiểu, vẫn không biết tại sao mình phải giấu giếm, nên con bé nói thật. Nó nói hai đứa trông thấy con chó ngoài đường và Harry đè nó xuống trong khi John mổ nó ra (chúng chỉ muốn nhìn thôi, chúng đâu có định lấy thứ gì ra).

Bố tức điên và lắc Harry mạnh đến nỗi John có thể nghe tiếng răng con bé va vào nhau, và bảo chúng không bao giờ, không bao giờ được làm thế nữa, rằng như vậy là xấu và ác và sai. Harry bắt đầu khóc, vì như vậy đâu có sai, vì mẹ nói không sao mà, có điều khi bố nghe thế mọi chuyện chỉ càng tồi tệ thêm.

“Bọn mình phải như người bình thường.” Đêm ấy John nói với Harry, khi cả hai bị đuổi về phòng và không được ăn tối. “Mẹ không còn ở đây nữa, bọn mình không bình thường và nếu có ai phát hiện thì bọn mình sẽ gặp rắc rối to.”

“Em không muốn bình thường.” Harry nói. “Bình thường vừa chán vừa ngu lắm.”

“Nếu không bố sẽ bắt bọn mình đi xa.” John nói. “Và bọn mình sẽ không được ở với nhau nữa.”

“Nhưng em không muốn.” Harry lặp lại. Trong bóng tối, mắt con bé sáng lập lòe để nhìn thấy John, nhưng John đang tắt thị giác của mình đi. Cậu chỉ thấy mỗi hai đốm sáng ấy, và mỗi khi nó chớp mắt thì chúng nhấp nháy.

“Bọn mình không thể cho bố biết. Bố phát hiện ra mẹ, và bố gửi mẹ đi mất kia kìa.” John nói. “Bọn mình không thể.”

“Em ghét bố.” Harry nói. Con bé nhắm nghiền mắt. “Em ghét bố. Em ước gì bố mới là người bị gửi đi xa.”

Giờ thì nó khóc nức nở, nấc lên từng hồi như khi cả hai nhìn thấy mẹ lần cuối, khi mẹ ôm chúng và dặn chúng phải ngoan với bố và đừng lo cho mẹ, mẹ sẽ gặp chúng khi có thể.

John bò khỏi giường để ôm em. “Chỉ một lúc thôi.” Cậu hứa. “Đến khi nào bọn mình lớn.”

“Mẹ nghĩ bọn con có nên giống những đứa trẻ bình thường khác không?” John hỏi, khi mẹ gọi điện lần kế. “Nếu không làm thế thì bọn con có gặp rắc rối không?”

Đầu dây bên kia im lặng một lúc thật lâu; John có thể nghe rõ tiếng gió vần vũ và gào thét. Mẹ nói, “Mẹ không muốn các con phải thay đổi chính mình, Johnny. Dù có thế nào mẹ vẫn yêu các con. Nhưng,” lại một quãng dừng, “mẹ nghĩ như thế là tốt nhất, cho con và Harry.”

John cắn môi. “Dạ. Mẹ cũng nói với em nhé?” Cậu hỏi, và đưa ống nghe cho Harry.

Sau đó, khi còn lại một mình, Harry huých vai cậu và nói, “Thôi được, nhưng chỉ trước mặt người khác thôi. Không phải khi chỉ có hai đứa mình, nhé?”

“Ừ.”

Làm người bình thường không khó. John xem tivi và quan sát bạn bè để học thế nào phải và không phải là bình thường và tự đoán ra phần lớn thời gian còn lại.

Người bình thường không nhìn được trong bóng tối.

Người bình thường không thở được dưới nước.

Người bình thường không thể dịch chuyển đồ vật mà không cần chạm vào chúng. John cũng không thể nếu không muốn chịu một cơn nhức đầu, nhưng Harry có thể làm được với những món đồ nho nhỏ. Thường là để buộc dây giày cho John.

Người bình thường chảy máu khi bị cắt. Hai đứa thử nghiệm với điều này thật cẩn thận, trong phòng tắm, chỉ với một vết cắt nhỏ trong lòng bàn tay, cho đến khi John cứa sâu hơn và máu ứa ra, kèm theo đó là cơn đau cậu chưa bao giờ cảm thấy. Nó khiến cậu sợ hãi. Harry cũng vậy, và khi đã tìm ra cách làm được rồi, chúng không thử lại lần nào nữa.

Người bình thường không cắt hoặc đốt hoặc chích điện người khác.

Người bình thường không thể tắt đi cơn đau.

Người bình thường không chơi trò bác sĩ và mổ bụng mình ra (John tự hỏi thế họ làm gì nhỉ).

Người bình thường, khi chơi với thú vật, không dùng đến dao mổ.

Người bình thường không thể ăn thứ có độc mà vẫn khỏe mạnh. (John không nhận ra thạch tín không phải là một loại gia vị cho đến năm mười hai tuổi.)

Con gái bình thường không thích con gái khác, và con trai bình thường không thích con trai khác. (Năm mười lăm tuổi, cả hai biết được điều này không đúng và sau đó không đếm xỉa gì đến nó nữa.)

Làm người bình thường dễ đối với John hơn là với Harry. Thật ra cũng không đến nỗi nào, bởi vì con trai vẫn làm những trò khá vui, cho dù không vui bằng. Cậu có vài người bạn, những đứa nhóc ngồi với cậu vào giờ ăn trưa và cùng tán dóc về bài tập hoặc sách vở.

Nhưng Harry chẳng có bạn nào ngoài John ra, và con bé không hề có hứng thú bàn tán về con trai hay phấn son. Nó muốn thử xem mắt mình có thể phát sáng đến mức nào, sức mình có thể nâng đồ nặng đến đâu mà không cần đụng vào chúng, và nếu nó đi xăm mình rồi cho John lạng hình xăm ấy ra thì sao. Nó thích thuốc lá vì chúng có độc và dao vì chúng bén. Người ta sợ nó.

Người ta không còn sợ John nữa, khi mà cậu mặc áo len dày xù và không đâm ai trước mặt giáo viên trong vòng gần mười năm qua. Họ đã quên rằng cậu và Harry là song sinh, rằng cả hai cùng có chung một dòng máu. Họ đã quên rằng họ cũng nên sợ John.

Điều này khiến cậu cảm thấy như mình là con cá mập lượn lờ ngay bên dưới mặt nước.

Cậu thích thế.

John biết chắc rằng bố yêu chúng theo cách của mình, nhưng Harry đã thề sẽ không bao giờ thôi ghét bố vì đã đuổi mẹ đi. Ngay cả John cũng khó cưỡng lại, vì mỗi khi có chuyện gì xảy ra – mỗi khi cậu phải tự hỏi, mình có nên sợ khi có đứa đánh mình hoặc liệu mình có thể pha chất chống đông vào nước uống mà không ai để ý, cậu luôn cảm thấy một khoảng không chơ vơ trong lồng ngực, nơi mà lẽ ra mẹ nên có mặt.

Mẹ hiểu hai đứa. Nhưng mẹ không còn ở đây nữa, ngoại trừ những bức thư càng lúc càng thưa thớt mà bố chuyển lại cho John.

Khi John cuối cùng học xong xuôi quyển sách về cấu tạo cơ thể mà cậu mượn từ thư viện, và Harry cuối cùng bẫy được một con sóc để đi cùng với con chim sẻ chúng bắt được hai hôm trước, chúng lỉnh vào phòng John và khóa trái cửa lại.

Hóa ra một con sóc có cánh trên lưng lại không thể cử động đôi cánh, mà John vốn đã nghi ngờ là thế vì chỗ ấy không có cơ, nhưng nếu cậu gắn chúng thay vào chỗ hai chân trước của con sóc thì chúng vỗ được như thường. Khi John cắt đi phần thân sau của nó để giảm sức nặng, nó còn lảo đảo trượt được một quãng nữa kia.

“Bọn mình giữ chúng nó lại đi.” Harry nói. “Và đặt tên cho chúng.”

“Chúng nó là thú hoang, không phải thú nuôi.” John vừa đáp vừa ráp chúng trở về vị trí cũ. Cậu miết ngón tay lên con chim sẻ và nó giật mình tỉnh khỏi trạng thái im lặng gần như hôn mê mà nó đã rơi vào khi cậu vừa bắt đầu thao tác. “Hơn nữa, bố sẽ giận.”

“Lúc nào bố chẳng giận bọn mình.” Harry chỉ ra.

“Chúng ta có thể xin một con chó chẳng hạn. Một con thú nuôi đàng hoàng.” John nói. “Và dễ bảo nữa.”

Chúng hỏi, và bố bảo không, vì mỗi khi có một con thú nào thất lạc trong khu phố bố lại nhìn chúng, như thể chúng là thành phần nguy hiểm. Như thể bố sợ chúng. Bố còn lục lọi cả phòng chúng, và John biết bố tìm thứ gì cho dù cậu không bao giờ mở miệng xin lần nào nữa. Bằng chứng, nhưng bố sẽ không tìm thấy. Chúng chưa bao giờ giết chết sinh vật nào to hơn một con bọ, cho dù là vô ý.

Harry ghét thế vì lần nào nhìn ngó qua đồ đạc của con bé bố cũng lục ra và tịch thu thuốc lá mà nó lấy được từ anh trai một người bạn của John. John ghét thế vì lần nào Harry cũng khóc.

Cậu đã học được cách giấu dao của mình ở nơi bố không bao giờ tìm ra.

Bố qua đời sau cơn đột quỵ khi cả hai vừa vào lớp mười một. Một nhà họ hàng bên mẹ ngỏ ý nhận nuôi chúng, và không ai khác tình nguyện, thế là chúng lên đường đến Mỹ.

Thật là tuyệt vời.

Bà Bà (không phải bà thật của chúng, nhưng bà bảo chúng gọi thế) cho thạch tín và cà độc dược và mao địa hoàng vào thức ăn, Thing chỉ là một bàn tay (John hỏi Thing liệu hắn khi sinh ra đã thế hay hắn để lạc mất cơ thể mình rồi, và nhận ra quá muộn rằng hắn không biết dùng ngôn ngữ ký hiệu), và dì Morticia chỉ cho chúng biết nhà ngục nằm ở đâu.

Căn nhà này to khủng khiếp, một ngôi biệt thự đích thực, và vào đêm đầu tiên, em họ Wednesday và Pugsley lẻn vào phòng John thông qua một lối đi bí mật (lối đi bí mật!) và đánh thức cậu khi tìm cách đâm vào ngực cậu bằng – xin thề là sự thật – một cây giáo.

Bọn họ đã thành công. Khi John rút phăng cây giáo ra, trên ngực cậu là một lỗ sâu hoắm, rồi Wednesday và Pugsley bị mắng vì tội làm hỏng áo ngủ của cậu khi cậu đi tìm dì để xin bộ mới. Harry túm lấy một bím tóc của Wednesday và dọa sẽ xén nó tận gốc nếu cô bé không xin lỗi. Wednesday xin lỗi.

Dượng Gomez đăng ký cho hai anh em vào học một trường cấp ba gần nhà và bỗng nhiên chúng được yêu thích, vì bọn con gái Mỹ cho rằng chất giọng Anh của John rất đặc biệt và không ai ở đây biết về lần Harry bị đình chỉ học vì bị bắt quả tang hôn một nữ sinh, hoặc lần John bị gọi lên phòng hiệu trưởng vì châm lửa đốt áo một đứa bạn cùng lớp.

Dì Morticia dạy cho chúng cách nhìn ra những con vật mảnh khảnh chân dài lẩn lút ở những nơi không có thứ gì. Harry bỏ ra hàng giờ trò chuyện với chúng, đến khi chúng vây thành một đám mỗi khi nó tìm chúng, cọ cọ vào chân con bé như những con cún phấn khích mong được làm vừa lòng chủ. Chúng cũng nghe lời John, nhưng không tự nguyện và phấn khích bằng.

Wednesday và Pugsley chỉ mới mười hai tuổi, nhưng Harry hỏi một câu trọng điểm: “Hai đứa mười hai tuổi được bao lâu rồi?”

“Cũng một thời gian.” Wednesday đáp.

“Tại sao?” John hỏi. “Em thích được mười hai tuổi lắm à?” Nhưng cô bé không trả lời.

Harry lại bị bắt quả tang đang hôn một nữ sinh, nhưng lần này khi về nhà mặt con bé ràn rụa nước mắt. Dì Morticia chặc lưỡi lo lắng khi nghe nó giải thích và cho phép Harry dùng bữa tối trong phòng mà không phàn nàn gì.

Sau đó John đến phòng Harry để xem nó thế nào. Wednesday đã có mặt, đang ngồi xếp bằng ở chân giường. Cả hai ngưng nói chuyện khi John gõ cửa và bước vào. Nằm giữa hai đứa là một hình nộm bị ghim vài cây kim nhọn hoắt. Harry dịch sang một bên cho John. Con bé vỗ vào chỗ bên cạnh mình, và mỉm cười khi John ngồi xuống.

“Nói cho anh ấy biết.” Nó nói với Wednesday.

Sic gorgiamus allos subjectatos nunc. Đó là phương châm của dòng họ ta.”

“Nó có nghĩa là gì?”

“Sẵn lòng làm cỗ những kẻ nào muốn khuất phục chúng ta.” Cô bé đáp, và chỉ cho cả hai cách trả thù.

“Cần gì phải rời đi sớm như thế chứ.” Dì Morticia nói khi John bắt đầu nhận được giấy báo nhận vào đại học. “Cháu muốn ở bao lâu cũng được mà. Cháu hãy còn biết bao nhiêu thứ chưa học.”

John biết thế, nhưng nỗi nhớ nước Anh đã lớn đến nỗi gần như là một cơn nhức nhối. Mong muốn trở về quê hương còn tha thiết hơn mong muốn được tìm hiểu về phần bản chất tối tăm tiềm ẩn trong mình mà cậu chưa bao giờ thực sự biết đến. Cậu muốn trở thành một bác sĩ. Cậu muốn làm bác sĩ phẫu thuật và mổ cơ thể người thật sự, và nhìn thấy cách máu ứa ra mà bình thường cậu không thể nhìn thấy.

Cậu nói rằng, cậu muốn đi lính. Đó cũng là sự thật, vì ở đây làm gì cũng an toàn. Không ai bị thương. Không ai chết. Một phần trong thâm tâm cậu, chỉ có cậu và Harry biết, muốn được nhìn thấy nỗi sợ hãi lóe lên trong mắt con người trước khi sự sống của họ vụt tắt vào hư vô.

Thế nên, quân đội.

Cậu sang tuổi mười tám và khi học kỳ mới bắt đầu, cậu lên đường trở về nước Anh.

Nhưng Harry thích nước Mỹ đến nỗi cô ở lại tuổi mười bảy thêm ba năm nữa.

Ở Afghanistan, thỉnh thoảng John cứu được những người không thể cứu.

Khi không ai nhìn thấy, có những điều kỳ lạ anh làm được. Anh có thể hàn gắn cơ thể người khác. Cần phải khéo một tí, biết uốn nắn suy nghĩ của mình, khi anh cắt rộng ra một lỗ hổng đạn bắn và biến nó thành một đường rạch thay vì một vết thương.

Anh chưa bao giờ gặp khó khăn khi khép lại đường rạch.

Vấn đề là phải làm sao cho mình thật bình thường.

Vấn đề là phải kềm nén lại phần nào đó trong anh trước nay luôn có thể cắt đầu một con mèo và thằn lằn rồi ghép đầu chúng lên cơ thể một con chó để tạo ra một con quái thú lạ lùng tột bực, để rồi khi anh tháo chỉ và ấn đầu của chúng trở lại cơ thể gốc, cho chúng đứng dậy mà không bị thương tật gì.

Thi thoảng anh gian lận một lần, không quá thường xuyên. Anh chỉ ra tay khi nào bệnh nhân đang bị sốc quá nặng, khi không còn ai khác sống sót. Anh chỉ ra tay khi xung quanh chỉ có anh, người lính, mảnh vỡ vương vãi còn lại của bãi mìn, và tiếng rên rỉ “Tôi không qua khỏi – chân tôi mất cảm giác rồi” theo sau đó là tiếng thì thầm của John.

“Nhắm mắt lại. Ngủ đi, anh sẽ ổn thôi.” Trong khi đó, anh nắm lấy quy luật tự nhiên và bẻ lộn ngược đầu nó. Anh làm những điều mà ngay cả chính anh cũng không nên làm được. Anh biết những điều ấy không phải dùng cho chữa trị, nhưng anh vẫn cứ làm dựa trên ý chí của mình.

Thế nhưng vết thương không nên hóa lành lặn chỉ trong vòng vài phút, đồng nghĩa với việc phần lớn thời gian anh phải ngăn mình lại và để mặc cho vết thương hở miệng rướm máu, hai bên mép đã được khâu vào nhưng lành lại với tốc độ rùa bò của tự nhiên. Đôi khi chúng còn dẫn đến sẹo và nhiễm trùng và những thứ xấu xí, chân thực ấy không bao giờ xảy ra khi anh lột da tay của Harry để nhìn đến khung xương bên dưới. Đôi khi, chúng dẫn đến cái chết.

Đó là phần anh căm ghét nhất.

Đội của anh nghĩ rằng anh may mắn khi anh chưa bị bắn trúng lần nào, chỉ bị sượt qua. Trên thực tế, anh đã bị bắn mấy lần. Lần nào cũng như bị ăn đấm, một áp lực cứng nhắc đè lên người. Nhưng chỉ có thế, áp lực nhá lên rồi thôi. Sau đó khi anh tìm được dịp ở một mình, anh khoét viên đạn dúm dó ra khỏi cơ thể mình và cẩn thận khâu cái lỗ trên áo lại.

Chỉ có lần này, anh bị bắn và vết thương cháy bỏng, đau đớn, ngay cả khi anh đã tắt nó đi, ngay cả khi anh đã khiến mình lạnh buốt và xóa nhòa đi mọi màu sắc của thế giới. Cảm giác này anh chưa từng trải qua, cơn đau bén ngót bắt nguồn từ vai nhưng đâm xuống sâu hơn nữa, lan tỏa ra đến khi anh nổ đom đóm mắt và há hốc miệng hớp từng hơi thở.

Vết thương bị nhiễm trùng, sưng tấy và rát buốt. Anh bị sốt cao và mê sảng hàng tuần liền, sau đó trở thành thương phế binh và được giải ngũ. Anh lành bệnh rất chậm, chậm như một người bình thường vậy. Khi đã khỏe lại, anh có một vết sẹo lồi thô ráp trên vai và một cơn ác mộng mới nhập bọn với những cơn khác.

Một đồng đội đưa cho anh viên đạn họ lấy ra được từ vai anh. Khi John cầm nó lên, ngón tay anh râm ran kỳ lạ, cứ như anh đang cầm một hòn than nóng. Trên bề mặt kim loại có khắc thứ gì đó, nhưng nó bị hư hỏng và nhòe nhoẹt đến không thể nhận ra.

Khi John hỏi, Bill vân vê đầu ngón cái trên viên đạn và nói. “Đôi khi người Afghanistan cầu phúc cho đạn của họ. Để lấy may mắn.”

Khi gặp Sherlock lần đầu tiên, Harry đang – à thì, có thể gọi là say, nhưng không phải vì rượu. Chủ yếu là vì cảm xúc, những tầng lớp ngân nga lững lờ mà người ta quấn lấy quanh mình như áo khoác. Có lẽ cô đã đến một nơi đông đúc và ở đó một hồi, kéo về phía mình cảm xúc của những người xung quanh, cho đến khi thế giới hóa mình thành rực rỡ và nồng nàn.

John đang mở rộng thị giác của mình, chỉ một chút. Không đủ để mắt anh phát sáng, nhưng có thể cho anh nhìn được những sinh vật mờ ảo đang lượn lờ quanh cô, nhắp lấy từng ngụm sức mạnh tiết ra từ cô.

“John, tôi cần anh—” Sherlock khựng lại khi trông thấy Harry và John đang ngồi trên ghế sofa. “A.” Anh nói. “Bữa tối với Clara không được như ý?”

Harry khịt mũi. “Không.” Cô nói.

Cô vừa kể cho John nghe. Clara muốn hàn gắn lại, và Harry vẫn yêu cô ấy, nhưng. Nhưng Harry không thể, vì Clara không biết – về bất cứ thứ gì. Về mẹ, hay những con thú nuôi của Harry (đó là cách John thầm gọi chúng; anh không biết chúng có tên đàng hoàng hay không), hay vì sao Harry không sợ dao lẫn thuốc độc lẫn nhện.

“Cô vẫn còn tình cảm với Clara, nhưng cô không—” Sherlock bắt đầu, nhưng nín bặt khi John bắn cho anh một cái nhìn sắc lẻm.

“Im đi.” John nói, một tay choàng qua người em gái, khiến vài con thú nuôi của cô bị văng ra. Chúng lởn vởn trong không khí, chờ cô ngồi yên rồi lại sà xuống trên người cô và tay anh. Chúng để lại cảm giác châm chích trống rỗng gần như không cảm nhận được trên da. “Không phải lúc, Sherlock.”

“À.” Sherlock đáp, trong giọng nói có sự thay đổi rất khẽ mà John nhận ra tức thì. Đang tìm kiếm những từ đúng đắn, nhưng không hiểu vì sao. “Tôi xin lỗi, Harriet.”

Cô lắc đầu. “Có gì đâu. Tôi không – tôi không sao.” Cô ngẩng đầu lên, liếc mắt về phía Sherlock và ngừng lại, nhìn chằm chằm.

John biết cô nhìn thấy gì. Cả hai đã học được, từ khi còn nhỏ, cách phân biệt giữa họ và những người khác. Bởi vì dưới ánh sáng thích hợp và bằng thị giác thích hợp, John có thể nhìn Harry và thấy được nó, sự khác biệt mơ hồ khiến cô nổi bật.

Sherlock không có nó (Mycroft cũng không, nhưng John phải mất đến ba tháng để nhận ra điều đó).

“Thôi thì,” cô nói, đưa tay quệt nước mắt lần cuối và đứng dậy, chỉ hơi nghiêng ngả, “em cũng nên về nhà thôi.”

Bên ngoài, khi đang chờ xe taxi, cô huých vai John và nói. “Anh ta rất… bình thường, có phải không?”

John suy nghĩ. Anh so sánh giữa đầu người đông đá (không thể nói chuyện) trong tủ lạnh với bàn tay đứt lìa ngủ trong hộp gỗ, giữa tiếng vĩ cầm réo rắt lúc ba giờ sáng và những tạo vật của bóng tối thi thoảng chịu tuân theo ý người khác nếu họ đồng ý nhỏ một ít máu.

Anh nghĩ đến hơi thở đều đặn dưới nước và những năm học trường y với dao mổ và cửa khóa, về thạch tín và quái thú và xác chết biết đi. Anh nghĩ về phát súng bắn chết một tên tài xế từ phía bên kia đường và bị bắt cóc bởi bọn buôn lậu người Hoa, về bom và hồ bơi và mùi chlorine.

Không khác nhau là bao.

“Ở những điểm quan trọng thì không.” John trả lời.

.
hết
.


*Sic gorgiamus allos subjectatos nunc: là một câu nói Latin-giả trích từ phim The Addams Family (1991).